Các trường hợp phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ?
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch đầu tư thì hiện nay số lượng dự án đầu tư của thương nhân nước ngoài vào Việt Nam đang có xu hướng gia tăng hơn với các năm trước. Tính đến tháng 2/2017 thì đã có khoảng 116 quốc gia đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu phải kể đến là Hàn Quốc với tổng số vốn đăng ký đầu tư lên tới 50,98 tỷ USD, tiếp theo đó là một số nước như Nhật Bản, Đài Loan,.... Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay được đánh giá là thành phố dẫn đầu trong thu hút vốn đầu tư FDI, sự tăng trưởng này được coi là điểm đáng mừng cho Việt Nam, góp phần tạo cơ hội việc làm và phát triển kinh tế cho đất nước. Thủ tục đầu tư hiện nay đã được đơn giản hóa hơn rất nhiều so với trước đây, Luật đầu tư 2014 có hiệu lực thi hành góp phần cắt giảm những thủ tục đầu tư rườm rà, quy định về các hình thức đầu tư và thủ tục cần phải thực hiện đối với từng thủ tục cũng cụ thể và chi tiết hơn. Một thủ tục mà hầu hết cả nhà đầu tư nước ngoài khi muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam đều phải quan tâm đến là thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên không phải dự án đầu tư nào cũng phải thực hiện thủ tục này, bài viết này mình sẽ phân tích một chút về các trường hợp cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Hiện nay nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam theo một trong 4 hình thức sau:
- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
- Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp
- Đầu tư theo hình thức hợp tác kinh doanh, hợp đồng BCC
- Đầu tư theo hợp đồng PPP
Trong đó đối với những dự án đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài thì không phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Với ba hình thức đầu tư còn lại thì nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nước ngoài. Trong đó có một trường hợp mà nhà đầu tư phải lưu ý, đó là mặc dù không phải là nhà đầu tư nước ngoài, mà là những doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước nhưng lại có vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài thì vẫn phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi thực hiện đầu tư theo ba hình thức trên, nếu vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ như sau:
- Thứ nhất nếu doanh nghiệp có nhà đầu tư nước nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên
- Thứ hai, nếu doanh có thành viên góp vốn là doanh nghiệp như trường hợp 1 nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên
- Thứ ba, có thành viên là nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ tổng số vốn điều lệ từ 51% trở lên.
Trên đây là những trường hợp mà nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi thực hiện thủ tục đầu tư tại Việt Nam theo một trong ba hình thức: đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng BCC, đầu tư theo hợp đồng PPP.
Trong trường hợp giấy chứng nhận đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu mà cần điều chỉnh, thay đổi thì nhà đầu tư phải tiến hành làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. Một trong những đối tác quen thuộc của chúng tôi cung cấp dịch vụ này chính là công ty luật Việt Tín. Các bạn có thể tham khảo dịch vụ này tại đây.
Trong trường hợp giấy chứng nhận đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu mà cần điều chỉnh, thay đổi thì nhà đầu tư phải tiến hành làm thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. Một trong những đối tác quen thuộc của chúng tôi cung cấp dịch vụ này chính là công ty luật Việt Tín. Các bạn có thể tham khảo dịch vụ này tại đây.
Hi vọng những chia sẻ trên của mình có thể giải đáp được các thắc mắc của các nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang có ý định đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Nếu có vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ tới Luật Việt Tín để được tư vấn cụ thể hơn. Thông tin liên hệ:
- Hotline: 0945.292.808/0978.635.623
- Email: luatviettin@gmail.com

Nhận xét
Đăng nhận xét